Trang chủ Tin Tức Tin tức ngành

Tin tức ngành



Vì sao chi phí logistics cao ?

Email In PDF.

anh_chonre

Tại VN, chi phí logistics chiếm khoảng 25% GDP, trong đó vận tải chiếm khoảng 50 - 60%, quá cao so với thế giới.

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), chi phí logistics trung bình chiếm 12% tổng sản phẩm nội địa thế giới. Tại Mỹ, chi phí logistics chiếm 9,9% GDP. Đối với các DN, chi phí logistics thay đổi từ 4% đến trên 30% doanh thu.

Chưa chú trọng vai trò

Thực trạng hiện nay cho thấy, nhiều Cty VN chưa phát huy hết những lợi thế do logistics đem lại, thậm chí có DN chưa nhìn thấy vai trò hết sức quan trọng của logistics trong việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh. Logistics có liên hệ chặt chẽ giữa marketing, sản xuất, tồn kho, vận tải và phân phối. Thế nhưng, nhiều DN bố trí chức năng vận tải nằm trong phòng hành chính, quản trị tồn kho thì lại nằm trong phòng kế toán - tài chính, còn chức năng thu mua thì lại trực thuộc phòng marketing hay bán hàng... Việc tổ chức rời rạc các phòng chức năng như thế khiến DN quản lý các chức năng này cũng rời rạc. Vì vậy, cần phải hình thành một bộ phận riêng biệt cho logistics/chuỗi cung ứng để các nhà quản trị bộ phận này có thể phối hợp chặt chẽ với các chức năng khác.

Tại VN, hàng hóa phải đi qua quá nhiều trung gian, từ khâu cung ứng nguyên liệu cho sản xuất, đến khâu phân phối hàng hóa tới tay người tiêu dùng, làm tăng chi phí giao dịch, tăng giá bán. Trong chuỗi này, các bên tham gia đều cố gắng trục lợi cho chính mình, và vì thiếu thông tin, nên các thành viên trong chuỗi chỉ biết có bên quan hệ trực tiếp với DN mình mà chẳng biết đến các thành viên khác và kết quả là thổi phồng chi phí logistics.

Mặt khác, hệ thống phân phối tập trung vào các đô thị là chủ yếu, mà lại bỏ ngõ phần nông thôn. Nhà phân phối chỉ đảm trách vận tải cự lý ngắn và các đại lý  phải tự lo vấn đề vận tải của mình. Hơn nữa, việc bố trí mạng lưới bán lẻ thì tương đối dày đặc ở các khu trung tâm đô thị, trong khi đó các kho bãi lớn thì ở quá xa, và vì phần lớn các DN cũng chưa ý thức được vai trò của mỗi loại nhà kho như sơ cấp, thứ cấp, và kho trung tâm nên kết quả hoặc là chi phí vận tải thấp nhưng chi phí nắm giữ tồn kho cao hay ngược lại, mà một trong hai điều này cũng làm tăng tổng phí logistics.

Một vấn đề đáng quan tâm nữa là, DN chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ thuê ngoài như đại lý khai thuê hải quan, đại lý kế toán và các dịch vụ thuê ngoài 3PL - mà chủ yếu tự làm. Khi DN tự làm dịch vụ, tự đầu tư xây dựng kho bãi hay mua sắm phương tiện vận tải sẽ cần rất nhiều vốn đầu tư và khó đạt đến trình độ chuyên nghiệp. Trong khi khả năng khai thác thấp, vì thế chậm thu hồi vốn, không hiệu quả và chi phí logistics tăng cao.

Ngành logistics nước ta đang phát triển rất mạnh và nhiều DN cung ứng dịch vụ logistics đang tiến đến mức độ chuyên nghiệp hóa rất cao. Càng chuyên nghiệp hóa trong việc cung ứng dịch vụ thì chi phí logistics càng giảm. Vấn đề là DN có chú trọng có đến vai trò của logistics để giảm chi phí sản xuất hay không ?

Hạ tầng cơ sở còn yếu kém

Nước ta hiện có trên 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thủy, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên, chất lượng của mạng lưới giao thông không đồng bộ, nhiều nơi tiêu chuẩn kỹ thuật chưa đảm bảo an toàn trong giao thông. Tuy có 266 cảng biển, nhưng chỉ có 20 cảng biển có thể tham gia vào việc xuất nhập hàng hóa quốc tế. Đa số các cảng này chưa thể tiếp nhận các tàu container thông thương vì chưa đủ thiết bị cũng như kinh nghiệm bốc dỡ container...

Về phương thức vận tải, vận tải bằng đường hàng không chưa được phổ biến, mà chủ yếu bằng phương tiện vận tải đường bộ. Tuy vậy, như đã nêu, hệ thống giao thông này không thể được sử dụng cho vận tải hàng hóa nặng bởi đường hẹp, chất lượng kỹ thuật chưa cao, và năng lực vận tải quá thấp, trình trạng kẹt xe thường xuyên diễn ra. Nhiều khu công nghiệp xây dựng xong, nhưng chưa có đường giao thông hoặc các khu công nghiệp bố trí quá xa hệ thống cảng biển, làm chi phí vận chuyển hàng hóa tăng lên.

Càng chuyên nghiệp hóa trong việc cung ứng dịch vụ thì chi phí logistics sẽ càng giảm

Vận tải đường sắt hiện nay chỉ chở hành khách là chủ yếu. Với hệ thống hai khổ ray khác nhau (1 m và 1,43 m), phương tiện vận tải này không thể được dùng để vận tải hàng hóa trọng lượng cao và mất rất nhiều thời gian (chuyến đường sắt Bắc - Nam mất đến 32 tiếng đồng hồ).

Vận tải đường thủy chủ yếu bằng xà lan, chi phí thấp, an toàn, ít xảy ra tai nạn, nhưng thời gian vận chuyển lâu và khách hàng vẫn chưa mặn mà với hình thức vận chuyển này.

Ngoài ra, sự kết hợp các phương thức vận tài khác nhau (vận tải đa phương thức) để kết hợp các ưu điểm của từng phương thức vận tải cũng chưa phổ biến ở VN. Vì những lý do đó, tổng phí logistics (phần lớn là chi phí vận tải) rất cao là lẽ đương nhiên. Tình hình này dẫn đến giá bán lẻ trên toàn quốc rất khác nhau. Một xu hướng chung của các DN VN (và các DN xuất khẩu nói riêng) là không muốn lấy rủi ro, nên giá bán hàng hóa chỉ dựa trên giá bán FOB nguyên xứ (FOB origin), tức bán ra từ nhà máy, mà không bao gồm chi phí vận tải, trong khi đó, để cho giá bán lẻ đồng nhất trên toàn quốc, cần phải áp dụng giá bán FOB đáo xứ (FOB destination), tức giá hàng hóa cộng thêm chi phí vận tải trung bình từ nơi bán cho đến kho của khách hàng, để chi phí cập bến (landed costs) giống nhau.

Vì thế để giảm chi phí sản xuất cho DN, hạ được giá thành sản phẩm, cần thiết phải giảm chi phí logistics. Chi phí logistics nước ta năm 2011, ước tính hơn 25 tỉ USD. Như vậy, nếu chỉ giảm được 1% chi phí đó sẽ làm lợi cho DN, cho đất nước một số tiền không nhỏ

Theo Baomoi
 

Chuỗi cung ứng thời di động

Email In PDF.

barcodescanre

Trong ngành công nghiệp phân phối toàn cầu, ước tính có giá trị khoảng 2.900 tỷ đô-la Mỹ , vai trò của nhà sản xuất, phân phối, bán sỉ và bán lẻ đã bắt đầu bị lu mờ do chịu ảnh hưởng của yếu tố cạnh tranh, toàn cầu hóa và sự gia tăng về nhu cầu của người tiêu dùng. Vậy, trong bối cảnh công nghệ đang phát triển bùng nổ như hiện nay thì đâu là những cơ hội và thách thức, liệu rằng những công nghệ như 3G, 4G và các thiết bị không dây có làm nên một cuộc cách mạng trong quá trình quản lý chuỗi cung ứng?

Ông Greg Aimi, Giám đốc nghiên cứu chuỗi cung ứng của tổ chức AMR, cho rằng ngay cả khi sản phẩm xuất xưởng từ những nhà máy ở châu Á với giá khoảng vài cent, các nhà phân phối vẫn phải chịu áp lực ngày càng tăng để giảm giá thành, đồng thời lại phải nắm giữ hàng tồn kho lâu hơn nữa. Nhà bán lẻ ngày càng trở nên có quyền lực và lấn sâu vào những vai trò khác trong chuỗi phân phối. Họ đã phớt lờ những nhà phân phối và bán sỉ để vừa có thể giảm giá sản phẩm vừa được lợi nhiều hơn.

Những vấn đề của chuỗi cung ứng ngày nay

Cho dù đang ở phân đoạn nào của chuỗi cung ứng – nhà sản xuất, phân phối, bán sỉ hay bán lẻ – thì bạn cũng phải đối mặt với tình hình tỷ suất lợi nhuận ngày càng thu hẹp, vòng đời sản phẩm ngày càng ngắn và kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng. Cách duy nhất để có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường như vậy là bạn phải gia tăng tốc độ vận hành của cả quy trình trong khi không được hy sinh chất lượng hoặc mức dịch vụ mà bạn đang cung cấp. Chuỗi cung ứng của bạn cần tính linh hoạt!

Sự cơ động giúp loại trừ những khoảng thời gian hao phí bị ẩn trong cả quá trình hoạt động. Nếu không cơ động, toàn bộ quá trình sẽ bị phụ thuộc vào các ứng dụng chỉ có thể truy cập qua máy tính bàn, buộc toàn bộ việc kinh doanh phải dựa vào các chứng từ giấy tờ để truyền đạt và thu thập thông tin từ các nhân viên. Chính những quy trình dựa dẫm hoàn toàn vào giấy tờ như vậy làm hao tốn gấp đôi lượng thời gian cần thiết – thời gian để viết thông tin ra giấy rồi sau đó lại đồng bộ hóa chính những thông tin này vào máy tính. Kiểu quản lý thông tin chồng chéo như vậy chính là nguyên nhân dẫn tới tình trạng sử dụng thời gian không hiệu quả, chi phí nhân công cao và mức độ sai sót vượt ngoài tầm kiểm soát.

Thông qua việc xây dựng tính cơ động cho chuỗi cung ứng, các ứng dụng công nghệ sẽ được chuyển từ một máy tính văn phòng sang các thiết bị di động, những công cụ công nhân cần để tự động hóa cả quy trình. Công nhân có thể truy cập và ghi nhận thông tin thực tại mỗi thời điểm. Những thao tác bằng tay sẽ được thay thế bằng những tính toán dựa trên thông tin thực. Lấy ví dụ, khi nhập hàng tại cảng, mã vạch trên pallets sẽ được scan nhanh chóng để đối chiếu với máy tính và quyết định kiện hàng này nên được đưa vào kho hay tiếp tục được đưa lên tàu vận chuyển ngay lập tức. Như vậy, bất kể bạn đang quản lý hàng trong kho, đang vận chuyển hay quản lý giao nhận, tính cơ động trong chuỗi cung ứng sẽ “vắt cạn” sự kém hiệu quả ra khỏi các quy trình kinh doanh của bạn mà chắc chắn không làm gia tăng chi phí, không phải hy sinh chất lượng sản phẩm cũng như chất lượng dịch vụ hiện có.

Cuối cùng, với sức mạnh của sự cơ động, doanh nghiệp có thể ứng dụng nguyên tắc “tinh gọn” trong sản xuất, cho phép có sự kết nối chặt chẽ hơn giữa bộ phận sản xuất, bán hàng và hậu cần. Kết quả của sự thắt chặt đó chính là một chuỗi cung ứng tinh gọn mà tất cả thành viên trong doanh nghiệp cũng như những thành viên khác trong chuỗi đều có thể gặt hái rất nhiều lợi ích.

Chuỗi cung ứng cơ động

Đối với nhà sản xuất cũng như nhà phân phối, kho bãi là địa điểm rất quan trọng trong hoạt động doanh nghiệp, đó là trung tâm mà tất cả mọi thứ phải đi qua, từ nguyên liệu thô đợi đưa vào sản xuất đến thành phẩm đã hoàn tất đợi xuất xưởng. Với sự cơ động, tất cả các nghiệp vụ được thực hiện tại kho bãi đều có thể có những cải tiến rất quan trọng.

Sự cơ động có được thông qua việc sử dụng hệ thống đọc mã vạch (RFID) cũng giúp tự động hóa hoàn toàn quá trình kiểm tra hàng hóa, sản phẩm. Khi nhãn RFID được dán trên những tài sản, thiết bị quan trọng trong quá trình sản xuất, máy đọc sẽ tự động theo dấu những thiết bị đó lúc chúng di chuyển trong nhà kho.

Tất cả những thao tác từ lúc nhận hàng, đưa hàng vào kho, chuyển hàng, phân loại, đóng gói và giao hàng hoặc trả hàng sẽ tạo thành một quy trình khép kín nơi thông tin được thu thập và truyền đi một cách tự động, tức thời và hoàn toàn thông qua các thiết bị di động tiện lợi.

Tại từng thời điểm trong mỗi thao tác kể trên, ứng dụng sự cơ động sẽ giúp tăng năng suất, giảm sai sót, tiết kiệm chi phí, thời gian và nguồn lực. Nhưng quan trọng hơn cả, khi sự cơ động được ứng dụng vào các thao tác trong nhà kho, người quản lý kho lúc đó có thể ra khỏi văn phòng và quay trở lại kho để có thể giám sát nhân viên và đưa ra những quyết định ứng biến nhanh chóng cho từng trường hợp cụ thể. Lúc này năng suất của người quản lý kho được tận dụng tối đa để gia tăng giá trị tạo ra cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, giải pháp này còn giúp cho việc giám sát và quản lý quá trình vận chuyển hàng được thuận tiện hơn. Ứng dụng sự cơ động vào những hoạt động bên ngoài bốn bức tường nhà máy sẽ giúp kết nối tất cả tài xế và tài sản dù họ đang ở bất cứ đâu. Lịch xếp hàng hóa sẽ được người quản lý tính toán một cách hữu hiệu hơn. Và khi người tài xế mang theo thiết bị truyền tin có tích hợp với công nghệ GPS, người điều phối có thể thấy địa điểm hiện tại của tất cả xe tải và có thể chủ động thay đổi tuyến đường của xe gần nơi đó nhất để bảo đảm chất lượng dịch vụ với mức chi phí thấp nhất.

Những dữ liệu thời gian thực được liên tục cập nhật giúp người điều phối theo dõi được mức độ sử dụng và thời hạn bảo trì của mỗi xe trong đoàn. Điều này giúp giảm chi phí đầu tư cho xe tải, nhân công, chi phí sửa chữa xe cũng như chi phí khắc phục những sự cố khác do xe ngừng hoạt động. Với tất cả dữ liệu liên tục được cập nhật vào hệ thống, bất cứ khi nào có một đơn hàng đang có khả năng trễ hẹn, đèn hiệu sẽ báo và nhân viên có thể chủ động tránh giao hàng trễ hoặc giảm thiểu tác hại bằng cách báo trước với khách hàng.

Khi thao tác xác nhận giao hàng được tiến hành qua các thiết bị điện tử, tài xế có thể thu thập chữ ký điện tử và đính kèm bức ảnh về tình trạng món hàng rồi ngay lập tức truyền cho văn phòng. Bên cạnh đó, những tính toán này có thể được áp dụng vào việc thu thập và truyền tải những thông tin về thiết bị máy móc của xe, bao gồm việc đột ngột tăng tốc hay giảm tốc. Những thông tin đó là cơ sở để bộ phận quản lý xe đưa ra những cảnh báo về tốc độ hay thói quen lái xe của tài xế và những sự phán đoán về tình hình xe, giúp doanh nghiệp chủ động quản lý đội ngũ lái xe và tình hình đội xe của mình ngay cả khi họ di chuyển 100% thời gian.

Tăng hiệu quả nguồn nhân lực

Ngoài những ứng dụng kể trên về quy trình quản lý hàng hóa, khi ứng dụng sự cơ động vào việc quản lý chuỗi cung ứng, các vấn đề về nhân sự cũng được giải tỏa và công tác quản lý nhân sự sẽ được đưa lên tầm cao mới. Trong khi việc đổi mới công nghệ quản lý giúp tăng năng suất cho từng bộ phận, hệ thống quản lý nhân sự linh động sẽ làm tăng năng suất của từng cá nhân trong đội và làm tăng gấp nhiều lần hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ mới này.

Công nghệ được ứng dụng vào quá trình quản lý nhân viên qua công đoạn ghi nhận, đánh giá và thông tin. Ứng dụng công nghệ quét mã vạch trên bảng tên nhân viên giúp doanh nghiệp chủ động quản lý nhân viên của mình về mặt thời gian và tiết kiệm được gần 1.000 đô-la Mỹ ở mỗi công nhân/năm (theo Tổ chức tiền lương của Mỹ). Thêm nữa, phương pháp này cũng góp phần giúp doanh nghiệp biết được nhân viên nào đang làm gì và mất thời gian bao lâu, những dữ liệu này khi thu thập thường xuyên sẽ được xây dựng thành thước đo năng suất tiêu chuẩn của từng bộ phận.

Và cuối cùng, một khía cạnh rất quan trọng trong quá trình quản trị nhân sự đó chính là truyền thông và giao tiếp nội bộ. Để có thể liên tục tăng năng suất tối đa, nhân viên phải biết mình cần làm gì và làm như thế nào và ứng dụng công nghệ sẽ giúp được nhà quản lý rất nhiều trong vấn đề này – lấy ví dụ trong quá trình làm việc hằng ngày, thông tin về mục tiêu hằng ngày, hằng tháng ngay trên thiết bị cầm tay của nhân viên sẽ giúp họ có thể nhìn thấy năng suất của mình tiến bộ hay sút giảm trong suốt quá trình. Như vậy nhân viên sẽ thấy được họ là một phần của tổ chức và những công việc hằng ngày của họ có ảnh hưởng rõ ràng đến sự thành công của bộ phận và của cả tổ chức.

Nhìn chung, khi có những dữ liệu được cập nhật liên tục đó trong tay, người quản lý sẽ có thể chủ động hoạch định nguồn nhân lực và đủ cơ sở để xác lập những mục tiêu hết sức cụ thể và thực tế để toàn đội ngũ nhân viên phải tăng tốc theo. Ngoài ra, nhà quản lý có thể liên tục dò tìm khoảng thời gian và những nguồn lực đã hao phí để có thể tiến hành can thiệp và xử lý ngay lập tức. Những ứng dụng công nghệ và việc áp dụng sự cơ động vào công tác quản lý nhân sự sẽ giúp nhà quản lý làm công việc của mình tốt hơn, nhanh hơn và cuối cùng nó sẽ giúp họ có thể “rảnh tay” mà tập trung vào những sáng kiến mang tầm vóc cao hơn.

Tóm lại, ứng dụng công nghệ sẽ giúp chuỗi cung ứng giải quyết những vấn đề thách thức nhất gần đây: tỷ suất lợi nhuận nhỏ, vòng đời sản phẩm nhanh và kỳ vọng ngày càng cao của khách hàng. Bằng cách tích hợp năng lực công nghệ vào những thiết bị di động, doanh nghiệp sẽ có thể giúp nhân viên giảm đến mức thấp nhất thời gian hao phí và những sai phạm hằng ngày trong quá trình hoạt động. Kết quả cuối cùng của những cải tiến đó sẽ là một chuỗi cung ứng tinh gọn hơn, cung cấp sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn.

TBKTSG

 

Quyết toán thuế thu nhập cá nhân trước 31/3

Email In PDF.

Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, cá nhân có thu nhập tính thuế dưới 5 triệu trong 5 tháng cuối năm 2011 sẽ không được miễn thuế nếu tiền lương, tiền công trung bình trong năm cao hơn mức này.

Tổng cục Thuế vừa có công văn hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2011. Theo tinh thần Nghị quyết được Quốc hội phê duyệt giữa năm ngoái, cơ quan này sẽ miễn thuế cho các cá nhân có thu nhập trung bình dưới 9 triệu đồng một tháng trong năm 2011 (thu nhập chịu thuế là 5 triệu đồng một tháng nếu không có người phụ thuộc).

quyet-toan-thue-thu-nhap-ca-nhan-truoc-31-3

Tuy nhiên, theo ví dụ được Tổng cục Thuế đưa ra trong hướng dẫn, trường hợp cá nhân có thu nhập chịu thuế trung bình dưới 5 triệu đồng một tháng kể từ 1/8 (thời điểm bắt đầu áp dụng miễn thuế) trở về sau, nhưng thu nhập trung bình cả năm cao hơn mức này thì áp dụng tính thuế như bình thường.

Trước đó, theo ý kiến nhiều chuyên gia và doanh nghiệp, việc xác định đối tượng để miễn thuế căn cứ thu nhập trung bình cả năm, thay vì chỉ tính 5 tháng cuối sẽ phần nào làm giảm ý nghĩa của việc hỗ trợ thuế trong điều kiện kinh tế khó khăn. Do đầu năm thường là thời điểm các doanh nghiệp chi trả lương, thưởng Tết, có thể khiến thu nhập người lao động đội lên, trong khi vẫn phải nhận mức lương tương đối thấp trong giai đoạn cuối năm.

Cũng theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, trong trường hợp tổ chức, cá nhân trả tiền ăn giữa ca cho từng người lao động thì mức ăn giữa ca không tính vào thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, nếu khoản tiền này vượt quá mức 620.000 đồng một tháng theo quy định hiện hành của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì sẽ phải chịu thuế bình thường.

Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế, theo Tổng cục Thuế là thời điểm người lao động nhận được lương, tiền công.. Trường hợp tiền lương, tiền công tháng 12/2010 nhưng được trả vào tháng một thì tính vào thu nhập chịu thuế của năm 2011.

Đối với thu nhập chuyển nhượng chứng khoán, thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng chứng khoán được xác định bằng giá bán chứng khoán trừ giá mua và các chi phí liên quan đến chuyển nhượng. Riêng thu nhập từ cổ tức mà nhà đầu tư nhận được kể từ 1/8 sẽ tiếp tục được miễn thuế theo Nghị quyết của Chính phủ.

Cũng theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế thì thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm 2011, tức là ngày 31/3 tới.

Các đối tượng phải kê khai quyết thuế theo quy định:

1. Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải khấu trừ thuế không phân biệt có phát sinh khấu trừ hay không khấu trừ thuế.

2. Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân:

- Có số thuế phải nộp lớn hơn số thuế đã khấu trừ hoặc tạm nộp;

- Có yêu cầu hoàn số thuế nộp thừa hoặc bù trừ vào kỳ sau

3. Cá nhân cư trú có thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán đã đăng ký nộp thuế Thu nhập cá nhân theo thuế suất 20% tính trên thu nhập tính thuế với cơ quan thuế phải quyết toán thuế trong các trường hợp:

- Số thuế phải nộp tính theo thuế suất 20% lớn hơn tổng số thuế đã tạm khấu trừ theo thuế suất 0,1% trong 7 tháng đầu năm và 0,05% trong 5 tháng cuối năm 2011;

- Có yêu cầu hoàn thuế nộp thừa.

4. Cá nhân cư trú là người nước ngoài khi kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam trước khi xuất cảnh phải thực hiện quyết toán thuế.

Theo Vnexpress.net

 

Khảo sát thị trường 3PL năm 2012

Email In PDF.

Vui lòng xem file đính kèm

Tài liệu kèm theo
Download this file (21.10Third_Party_Logistics-Studie_2012-Vinafco.pdf)21.10Third_Party_Logistics-Studie_2012-Vinafco.pdf[ ]1024 Kb
Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 24 Tháng 3 2012 04:15 )
 

Mạng lưới chuỗi cung ứng có phải là con số cộng?

Email In PDF.
Việt Nam có dân số trẻ, tiềm năng tiêu thụ lớn. Mạng lưới nhà phân phối hoặc tổng đại lý chính là cánh tay chính là cánh tay nối dài, giúp sản phẩm được bao trùm rộng khắp các địa bàn,...Tuy nhiên đây lại là mô hình phức tạp nhất trong việc phân phối hàng hóa và dịch vụ.

 Trong nhiều năm qua chính phủ và các cơ quan truyền thông, báo chí đã tốn không ít công sức và giấy mực để góp phần cải thiện tình hình phân phối hàng hóa ở nước ta, nhưng xem ra sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cộng đồng khối doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp chủ hàng và nhà phân phối logistics vẫn còn chậm. Vậy đâu là nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề này đang là mối quan tâm của nhiều chuyên gia và các nhà quản lý.

 

Mạng lưới cung ứng của các tập đoàn – Tổng công ty Việt Nam

Trong năm 2009 tác giả đã tiến hành nghiên cứu sơ bộ hệ thống phân phối hàng hóa của 9 tập đoàn và tổng công ty thuộc nhiều ngành hàng khác nhau tại địa bàn Hà Nội dựa trên các cuộc tiếp xúc và trao đổi với một số đối tượng liên quan cũng như những số liệu và thông tin công bố trên các trang web của các đơn vị này. Cụ thể như sau:

1.   Tổng công ty thép Việt Nam có 10 công ty con trực thuộc (trong đó có 5 công ty sản xuất thép, 1 công ty sản xuất vật liệu xây dựng và 4 công ty kinh doanh XNK và tiêu thụ; Ngoài ra Tổng công ty còn có 24 công ty liên doanh, liên kết. Năng lực luyện phôi thép hàng năm trung bình là 1,5 triệu tấn và trong đó luyện từ quặng là 300.000 tấn. Năng lực sản xuất thép cán và sản phẩm sau cán bình quân đạt 2,5 triệu tấn/năm. Sản lượng tiêu thụ bình quân là hơn 3 triệu tấn/năm. Khách hàng tiêu biểu của công ty mẹ tổng cộng là 19 đơn vị suốt từ Nam đến Bắc. Riêng hệ thống phân phối thép xây dựng của công ty mẹ ở phía Bắc gồm có 5 chi nhánh 3 tổ bán hàng cùng 11 cửa hàng chính và ở phía Nam. Tổng cộng có 4 chi nhánh và 6 cửa hàng lớn chưa kể mạng lưới các nhà máy sản xuất thép ở 1 số địa phương. Đến nay sản lượng thép hàng năm đã tăng đến gần 20 triệu tấn.

2.   Tổng công ty xi măng Việt Nam trong năm 2007 đã cung ứng trên 15 triệu tấn và đến năm 2009 đã cung ứng hơn 60 triệu tấn. Tổng công ty có 8 đơn vị trực thuộc, 16 đơn vị nắm giữ cổ phần chi phối và 8 đơn vị liên doanh nắm giữ 50% vốn điều lệ. Đến năm 2009 cũng chưa có hệ thống phân phối cụ thể cho từng khu vực.

3.   Tổng công ty lương thực Miền Bắc VNF1 có 3 chi nhánh ở phía Nam, 3 đơn vị thành viên hạch toán độc lập và phụ thuộc, 2 liên doanh, 18 công ty cổ phần. Năng lực sản xuất và kinh doanh hàng năm là 1,8 triệu tấn; trong đó xuất khẩu hơn 700.000 tấn gạo. Đến năm 2009 cũng chưa có hệ thống phân phối cụ thể cho từng khu vực.

4.   Tập đoàn Vinamilk trong năm 2009 đã chiếm hơn 39% thị phần sữa trong toàn quốc, có 3 chi nhánh và các cửa hàng giới thiệu sản phẩm. Có 10 nhà máy sản xuất, 1 kho hàng ở TP Hồ Chí Minh và hiện nay có hơn 220 nhà phân phối, trên 140.000 điểm bán hàng trong toàn quốc. Ngoài ra Vinamilk còn có 3 nhà phân phối sản phẩm cho nước ngoài, và nhiều trang trại nuôi bò sữa trong toàn quốc. Phải nói cho đến nay mạng lưới phân phối của Vinamilk là khá rộng rãi.

5.   Tập đoàn Kinh Đô đến năm 2009 có 1 nhà máy sản xuất ở Củ Chi, 2 trung tâm phân phối và có mạng lưới phân phối trên 24 tỉnh thành trong toàn quốc. Ngoài ra còn có mạng lưới phân phối cho hơn 30 quốc gia khác.

6.   Tập đoàn BITIS’có 3 công ty thành viên và 1 công ty liên doanh với Đài Loan. Hiện có 3 văn phòng đại diện ở Trung Quốc, 5 trung tâm thương mại trong nước, có 4 chi nhánh và hơn 4.500 đại lý - cửa hàng  khắp toàn quốc. Ngoài ra Tập đoàn này còn xuất khẩu đến hơn 40 nước.

7.   Công ty sơn Joton có 3 nhà máy sản xuất, 4 chi nhánh phân phối ở 4 vùng miền và có các đại lý ở hầu hết các tỉnh thành trong toàn quốc. Sản lượng trong năm 2009 là 104.000 tấn. Riêng chi nhánh ở Hà Nội phục vụ cho 28 tỉnh thành phía Bắc và có hơn 66 đại lý và cửa hàng.

8.   Công ty cổ phần dầu thực vật Tường An có 3 nhà máy sản xuất ở TP.HCM, Bà Rịa và Nghệ An, năng lực hàng năm khoảng 250.000 tấn. Có 4 chi nhánh ở 4 vùng miền, hơn 200 đại lý phân phối và hàng trăm cửa hàng, siêu thị trong toàn quốc. Công ty còn xuất khẩu sang các nước ở châu Á và Đông Âu.

9.   Công ty CADIVI (sản xuất cáp điện các loại) có 5 xí nghiệp sản xuất và 2 chi nhánh, có 52 đại lý trên toàn quốc (trung bình mỗi tỉnh có 8-9 đại lý).

 

Điểm yếu của hệ thống phân phối của các Tập đoàn – tổng công ty:

•    Hầu hết các đơn vị kể trên đều có từ 3 đến hàng chục nhà máy, xí nghiệp sản xuất cũng như các đơn vị xuất nhập khẩu nằm rải rác ở cả 3 vùng Trung, Nam, Bắc và có thị phần tương đối lớn.

•    Có mạng lưới phân phối rộng khắp ở hầu hết 63 tỉnh thành, ngoài ra còn có 1  số đơn vị đã có mạng lưới phân phối ở nước ngoài.

•    Các đơn vị này đều có các chi nhánh và các tổng kho nằm ở 4 địa phương tiêu biểu, đó là: Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội (dọc theo Quốc lộ 1) và mỗi tổng kho đều ủy thác cho đại lý của mình tại khu vực để phân phối cho các đại lý cấp 1 ở các tỉnh nằm trong khu vực đó và đại lý cấp 1 ở các tỉnh lại ủy thác cho các đại lý cấp 2 ở các huyện trong địa bàn tỉnh. Mỗi tỉnh thường có từ một đến hai đại lý cấp 1 tùy theo quy mô địa bàn. Còn hiện nay mạng lưới phân phối bán lẻ chưa vươn tới các khu dân cư hay các khu công nghiệp mà việc này hầu như do tư thương đảm nhận.

•    Về phương thức vận tải thì các nhà sản xuất đều dùng ô tô có trọng tải lớn trên 40 tấn và phương tiện tàu hỏa là chủ yếu để chuyên chở hàng hóa từ nơi sản xuất đến các tổng kho. Ngoài ra một số đơn vị còn dùng đường biển để chuyên chở nhưng tỷ lệ chưa nhiều. Còn phương tiện chuyên chở của các đại lý thì phải tự lo, tổng kho chỉ đảm nhận chuyên chở hàng hóa cho đại lý trong vòng bán kính từ 10 đến 15 km, còn xa hơn thì chỉ hỗ trợ một phần cước phí.

•    Do mạng lưới phân phối hiện nay chỉ dừng lại ở phương thức ký hợp đồng ủy thác giữa hai bên liên quan đối với từng công việc cụ thể nên đại lý tiêu thụ được bao nhiêu hàng hóa thì được hưởng mức hoa hồng bấy nhiêu, do đó các mối liên kết giữa các khâu từ sản xuất đến lưu thông phân phối và bán lẻ cho hộ hay người tiêu dùng còn bộc lộ nhiều điểm yếu sau đây:

Thứ nhất, là mạng lưới cung ứng hàng hóa hiện nay còn có quá nhiều tầng nấc trung gian, chạy lòng vòng kể từ khâu cung cấp nguyên liệu cho sản xuất đến khâu phân phối, cung ứng hàng hóa đến tay người tiêu dùng. Sở dĩ như vậy vì mạng lưới của ta đã hình thành một cách tự phát không có quy hoạch và thiết kế theo một chuẩn mực nào kể cả doanh nghiệp nhà nước và tư nhân (chẳng hạn hệ thống cung ứng gạo và gas hiện nay ở các đô thị có đến 3 hay 4 cấp đại lý thực hiện). Do đó đã làm tăng chi phí giao dịch, tăng giá bán, gây những hậu quả bất lợi như đua nhau thổi giá, tung tin thất thiệt tạo ra các cơn sốt ảo để trục lợi, còn Nhà nước chỉ biết dùng các biện pháp hành chính để quản lý nhưng bất cập. Người tiêu dùng phải chịu giá cao và không biết làm thế nào để chọn được sản phẩm an toàn…

Thứ hai, là thiếu một nhạc trưởng chỉ huy nên các khâu liên kết trong hệ thống lỏng lẻo, các thành phần tham gia chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ của mình chứ không ai quan tâm đến lợi ích chung của cả chuỗi. Do đó hiệu quả kém.

Thứ ba, là hệ thống thông tin trong chuỗi cung ứng không được thiết lập nên từng thành viên chỉ biết người quan hệ trực tiếp với mình chứ không biết các thành viên khác trong chuỗi do vậy không thể hỗ trợ nhau hay phối hợp chặt chẽ với nhau; đặc biệt không có thông tin phản hồi từ phía người tiêu dùng đến được nhà sản xuất. Do đó chất lượng, mẫu mã chậm được cải tiến.

Thứ tư, là việc tổ chức vận tải và điều động hết sức phân tán, hầu hết các đại lý phải tự lo phương tiện còn nhà phân phối chỉ đảm nhận vận chuyển với cự ly ngắn do đó chi phí vận tải khá cao. Ở các khu vực dân cư mạng lưới phân phối chủ yếu do tư thương đảm nhận. Do đó khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng chỉ đạt khoảng 70% ở khu vực đô thị còn ở khu vực nông thôn thì tỷ lệ này còn thấp hơn. Theo khảo sát gần đây, một số tỉnh miền Tây Nam Bộ thì chỉ có khoảng 15% đến 20% hàng có chất lượng cao của Việt Nam sản xuất được phân phối ở khu vực nông thôn, số hàng hóa còn lại đến 80% là hàng nhái, hàng kém chất lượng trôi nổi không rõ nguồn gốc…

 

Thiếu công ty cung cấp dịch vụ logsitics trọn gói chuyên nghiệp

Ở nước ta hiện nay có hơn 800 công ty đăng ký hoạt động Logistics nhưng thực chất những doanh nghiệp này chỉ thực hiện một số công việc cụ thể như tiếp nhận và kho vận. Nếu có tham gia phân phối thì đó cũng chỉ là những công việc cụ thể do chủ hàng thuê chứ không phải là những công ty Logistics chuyên nghiệp hoạt động trọn gói như ở các nước. Hiện tại ước tính chỉ có khoảng 10% số doanh nghiệp logistics hoạt động có hiệu quả.

Vì vậy không thể để mạng lưới phân phối hiện nay tiếp tục tồn tại lâu hơn nữa mà phải dần từng bước thiết lập một hệ thống phân phối có tổ chức vì lý do sau:

Theo khảo sát của tác giả, hiện nay đã có hai doanh nghiệp nước ngoài thiết lập mạng lưới phân phối hàng hóa. Đó là một doanh nghiệp của Singapore và một doanh nghiệp của Hàn Quốc thiết lập hệ thống phân phối ở Bình Dương và Bắc Ninh với vốn đầu tư cho mỗi trung tâm khoảng 4 triệu USD. Và trong năm 2011 khi chúng ta mở cửa tất cả các loại hình dịch vụ theo tiến độ gia nhập WTO thì không có lĩnh vực nào hạn chế đối với doanh nghiệp nước ngoài; đặc biệt trong khâu phân phối hàng hóa. Do vậy nếu các doanh nghiệp Việt Nam chậm chân thì sẽ rất khó tìm kiếm được đất để xây dựng các trung tâm phân phối có quy mô hàng chục ha, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội , TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng... do tốc độ hóa đô thị diễn ra rất nhanh chóng.

Với chủ trương “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” thì khâu phân phối lưu thông đóng vai trò rất quan trọng vì không thể để thị trường ở nông thôn bị bỏ ngõ cho hàng lậu, hàng nhái kém chất lượng chế ngự lâu hơn nữa, cũng như không thể để cho thương nhân nước ngoài trực tiếp mua bán tận gốc hàng hóa nông sản như hiện nay.

Bên cạnh đó mạng lưới siêu thị, các trung tâm mua sắm lớn của ta mới chỉ đạt tỷ lệ phân phối hàng hóa khoảng 30% nhưng tỷ lệ cung ứng hàng Việt có chất lượng cao tại đây cũng chưa cao. Như vậy rất khó có khả năng chi phối được giá bán lẻ để bình ổn giá vì có nắm được lượng hàng lớn trong lưu thông thì mới  có sức mạnh để cạnh tranh.

 

Mạng lưới cung ứng hàng hóa có phải  là con số cộng?

Lâu nay một số doanh nghiệp bán lẻ cho rằng họ đã có một chuỗi siêu thị, một chuỗi cửa hàng tiện ích, một chuỗi cửa hàng nhượng quyền hay một chuỗi cửa hàng chuyên doanh thậm chí là cả một mạng lưới phân phối trong cả nước với số lượng các cửa hàng, siêu thị hay đại lý lên đến con số hàng chục hay hàng trăm.

Tuy vậy câu trả lời ở đây là “không” vì tuy có nhiều cửa hàng hay siêu thị, nhưng các cửa hàng đó chưa tạo ra các mối liên kết chặt chẽ với nhau và với các nhà cung cấp cũng như chưa thiết lập được sự điều hành thống nhất hay nói một cách khác là chưa có một nhạc trưởng chung. Do đó tính hệ thống của chuỗi hay của mạng lưới phân phối đó chưa thể hiện được mà mỗi cửa hàng hay siêu thị đó vẫn có những lĩnh vực hoạt động riêng hay liên kết một cách lỏng lẻo.

Chúng ta có thể lấy hình ảnh của một chiếc xích xe đạp để mô tả một cách trực giác mối liên kết giữa các mắt xích đó với nhau vì chữ chuỗi mà chúng ta đang dùng bắt nguồn từ tiếng Anh là “chain” và chain chính là xích.

Ta thấy một chuỗi xích cần phải có 3 đặc tính: thứ nhất là phải có nhiều mắt xích, thứ hai là các mắt xích đó phải liên kết chặt chẽ với nhau bằng các chốt xích, nếu chốt xích nào bị gẫy thì chiếc xích đó không dùng được nữa và thứ ba  nếu ta đạp xe về phía trước thì toàn bộ các mắt xính đều chuyển động về một phía; tức là các mắc xích phải cùng phối hợp hành động với nhau. Như vậy về trực giác ta thấy các chuỗi cửa hàng hay chuỗi siêu thị mà doanh nghiệp tạo ra mới chỉ đạt được tiêu chí số 1; còn hai tiêu chí kia chưa có nên chưa thể gọi đó là một chuỗi mà còn phải làm nhiều việc hơn nữa.

Do chưa hiểu được bản chất của mạng lưới phân phối nên 3 năm qua một Tổng công ty lương thực đã thành lập công ty cổ phần phân phối gạo trước hết mở 7 cửa hàng thuộc 3 quận nội thành Hà Nội với tổng kho đặt cách xa thành phố khoảng 40km và 1 kho trung gian nằm ở trung tâm thành phố. Các cửa hàng này cũng phục vụ bán gạo tại nhà qua điện thoại. Nếu mô hình này thành công thì Tổng công ty này có khả năng sẽ thiết lập mạng lưới phân phối gạo rộng khắp ở nhiều tỉnh thành khác và đó là việc rất đáng hoan nghênh.

Tuy nhiên vì coi mạng lưới phân phối chỉ là làm sao phát triển được nhiều cửa hàng ở nhiều nơi và không có quy hoạch và biện pháp để cắt giảm các chi phí phát sinh nên mỗi kg gạo bán ra đều đắt hơn loại gạo tương tự của tư nhân từ 1.500đ đến 2.000đ mặc dù bao bì gạo khá hấp dẫn. Do đó chỉ sau hơn 3 năm  nhiều cửa hàng phân phối bán lẻ này đã phải đóng cửa hoặc phải bày bán chung với các mặt hàng khác. Nếu như muốn làm tiếp thì doanh nghiệp này chắc chắn  không thể làm được vì chi phí tăng và lợi nhuận không có.

Vậy làm thế nào để giảm được chi phí cho mỗi cân gạo bán ra có giá thấp hơn so với giá gạo bên ngoài là câu hỏi có tính chất quyết định đến sự tồn tại của chuỗi cửa hàng này. Điều này không thể có được nếu không đưa mô hình quy hoạch mạng lưới phân phối hiện đại vào thực tiễn vì chuỗi phân phối hiện đại có thể giảm chi phí từ 15% đến 20% góp phần giảm được giá bán.

 

Lời kết

Chúng ta biết rằng trong chuỗi giá trị từ khâu mua nguyên liệu để sản xuất cho đến khâu sản xuất và phân phối lưu thông thì gồm có hai loại giá trị:

Một là, loại “giá trị nội tại” tạo ra ở từng khâu trong chuỗi giá trị đó (như khâu thu mua lúa, khâu xay sát, khâu lưu trữ ở kho, khâu vận tải, khâu bán hàng... là những giá trị trực tiếp mà chúng ta dễ cân đo đong đếm dựa trên các chi phí như tiêu hao nguyên liệu, vật tư, nhân công... để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm ở mỗi khâu và

Hai là, loại “giá trị liên kết” tạo ra ở giữa các khâu đó (như giữa khâu thu mua lúa và khâu xay sát, giữa khâu xay sát bảo quản ở kho và khâu phân phối bán buôn, giữa khâu bán buôn và khâu bán lẻ... Đây là những giá trị gián tiếp mà chúng ta khó nhận thấy trong thực tế.

Giả sử nếu hai cửa hàng bán lẻ cùng bán một số mặt hàng nào đó giống nhau mà ở gần nhau nếu mỗi cửa hàng khai thác nguồn hàng riêng cho mình thì đối với mỗi đơn hàng của cùng 1 nhà cung cấp thì hai cửa hàng này phải cử 1 người đi ký kết hợp đồng và sau đó phải thuê 1 chuyến xe để chở hàng. Như thế phải mất hai người đi liên hệ và thuê hai chuyến xe bất kể số lượng hàng hóa của mỗi xe nhiều hay ít cũng như mỗi cửa hàng phải luôn luôn dự trữ 1 lượng hàng nào đó để tránh tình trạng bị “cháy hàng”. Nếu 2 cửa hàng này liên kết với nhau trong một chuỗi có sự điều hành chung thì mỗi đơn hàng chỉ cần cử 1 người đi ký kết và thuê 1 chuyến xe đủ trọng tải mà thôi cũng như lượng hàng dự trữ ở mỗi cửa hàng sẽ thấp hơn nhiều. Đồng thời lượng nguyên liệu hay hàng tồn trữ của nhà phân phối cũng được giảm bớt vì hằng ngày họ biết được rất rõ lượng tiêu thụ của hai nhà bán lẻ kia đối với từng mặt hàng mà họ cung ứng. Rõ ràng nhờ liên kết mà hai cửa hàng này cũng như nhà phân phối đã tiết kiệm được chi phí giao dịch, chi phí vận tải cũng như tiết kiệm được cả chi phí vốn. Do đó sẽ góp phần giảm được giá bán mà nếu làm ăn riêng lẻ không thể có được. Vì thế “liên kết” không phải chỉ là một khẩu hiệu có tính chất động viên mà nó thực sự có lợi cho chính bản thân các doanh nghiệp bất kể là doanh nghiệp lớn hay nhỏ trong cuộc cạnh tranh về giá.

 

 

Tiến sỹ Vũ Quý Hưng, Chuyên gia bộ NN&PTNT

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 01 Tháng 2 2012 07:23 )
 
Trang 1 trong tổng số 4

Tỷ giá ngoại tệ

Liên kết website